Chương 4
Phan Kim Liên, Lý Bình Nhi, Bàng Xuân Mai – mỗi tên lấy một chữ đại diện. Sau khi đưa khắc in, có người gọi là truyện thì tên sách đề là Tân khắc từ thoại. Đó là tên gọi ơ? thời kỳ đầu mới khắc in. Về sau, những người xuất bản thường chụp lên đầu tên sách một số mũ nào đó, thế là thành các tên như Túc bản từ thoại bản đầy đủ , Hội đồ cổ bản từ thoại bản cổ có tranh vẽ v.v…
Cuối đời Minh, do chỗ từ thoại có tăng thêm, tỉa bớt hoặc sửa chữa khá nhiều, hoặc có vẽ tranh, bình luận, hình thành một hệ văn bản mới nên tên sách cũng thay đổi theo, gọi là Tân khắc tú tượng phê bình bản khác mới có tranh thêu và lời bình hoặc Tân thuyên tú tượng phê bình nguyên bản thêm chữ “nguyên bản” . Người ta quen gọi loại này là “bản Sùng Trinh” #1 . Tú khắc cổ bản bát tài tử từ thoại cũng thuộc loại này.
Dưới thời Khang Hi nhà Thanh, Trương Trúc Pha, tức Trương Đạo Thâm, người Bành Thành, rất tán thưởng sách này, mệnh danh nó là Thiên hạ “đệ nhất kì thư”. Lấy Tân khắc tú tượng phê bình Kim Bình Mai làm bản nền, họ Trương đã tiến hành phê bình một cách toàn diện và có hệ thống, đến mức thành một hệ văn bản mới, lưu truyền khá rộng rãi, ảnh hưởng tương đối sâu sắc, đầu quyển thường ghi là Cao Hạc đường phê bình Đệ nhất kì thư và ở trang bìa giả, thôi thì đủ
Nào là Đệ nhất kì thư, nào là Đệ nhất kì thư , Đệ nhất kì thư tú tượng. Tú tượng đệ nhất kì thư. Tứ đại kì thư đệ tứ chủng, Tăng đồ tượng túc bản , Tăng đồ tượng Cao Hạc thảo đường kì thư toàn tập, nào là Hội đồ đệ nhất kì thư, Hiệu chính gia phê Đa thê giám toàn tập, Tân thuyên hội đồ Đệ nhất kì thư Chung tình truyện v.v… Thời Gia Khánh Thanh , trên cơ sở bản nền có lời bình của họ Trương , đã ra đời một bản rút gọn gọi là Tân khắc kì thư.
Thời Dân Quốc, có người gia giảm cắt gọt ” có lời bình của họ Trương”, xào xáo lại, bôi râu vẽ mặt thêm, cho ra đời cái gọi là ” chân chính’, đặt tên là Hội đồ chân bản Kim Bình Mai. Từ đó về sau lại có thêm những là Cổ bản , Tiêu điểm cô bản cổ bản , Cảnh thế kì thư v.v và v.v… Chúng là hàng rởm vỗ ngực tự xưng là “chân” thật “cô” hiếm , cô?
xưa , nhưng là thứ hàng rởm đã thành công trong công cuộc mập mờ đánh lận con đen, và đã từng lưu hành rộng rãi một thời.
Cho đến nay tính ra lưu truyền có đến mấy chục bản khác nhau, có thể quy nạp thành ba hệ văn bản
1 Hệ văn bản “từ thoại”
Hệ này, Tôn Khải Đệ gọi là từ thoại, học giả Nhật Bản gọi là “bản từ thoại”, học giả Mỹ gọi là “hệ bản A”.
Bản sớm nhất của hệ này là bản khắc năm Vạn Lịch 45, cũng là bản sớm nhất trong các truyền bản đã biết. Hệ này nay còn lại tương đối hoàn chỉnh chỉ có ba bộ một hiện ở Đài Loan trước lưu giữ ở Thư viện Bắc Kinh , hai bộ Ở Nhật Bản.
Đặc điểm tương đối nổi bật của hệ văn bản này là ở hai chữ “từ thoại”. Từ thoại vốn là một hình thức nghệ thuật “thuyết xướng” kết hợp hát với nói lời bạch, xen kẽ văn xuôi với văn vần , hình thức này có từ thời Tống, thịnh hành thời Nguyên – Minh. từ thoại tuy mang tên như vậy song không thê?